GÓC NHÌN LUẬT SƯ

Cần hiểu đúng một số vấn đề quanh vụ án tại Trường THCS Ba Đình - Vụ án liên quan đến bà Nguyễn Thị Bình, cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình, Hà Nội

Nhìn từ quy định pháp luật: Cần hiểu đúng một số vấn đề quanh vụ án tại Trường THCS Ba Đình

Vụ án liên quan đến bà Nguyễn Thị Bình, cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình, Hà Nội, vừa có diễn biến mới khi bản án sơ thẩm bị tuyên hủy để điều tra, giải quyết lại theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Sau diễn biến này, trên mạng xã hội và một số phương tiện thông tin xuất hiện nhiều cách diễn giải khác nhau. Đáng chú ý là các ý kiến cho rằng vụ việc đã kéo dài 13 năm; hồ sơ đã được trả để điều tra bổ sung 6 lần; Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm đã bị “hủy”; người tố cáo nếu tố cáo không đúng có thể bị xử lý về tội vu khống; hoặc việc trước đây cơ quan thanh tra kết luận không có sai phạm nhưng sau đó cơ quan điều tra lại xác định có dấu hiệu vi phạm.

Những vấn đề này cần được xem xét trên cơ sở phân biệt rõ giữa thời điểm vụ việc được phản ánh, tố cáo với quá trình thanh tra và tố tụng hình sự, đồng thời sử dụng chính xác các thuật ngữ pháp lý.

Bài viết chỉ cung cấp thông tin tham khảo trên cơ sở các quy định pháp luật, không đưa ra kết luận về hành vi của các bị cáo hay kết quả vụ án.

Vụ án có thực sự kéo dài 13 năm?

Một trong những điểm cần làm rõ là sự khác nhau giữa thời điểm vụ việc được phản ánh và thời điểm vụ án hình sự được khởi tố.

Theo nội dung đã được công khai, những vấn đề liên quan đến thu, chi trong hoạt động dạy thêm tại Trường THCS Ba Đình được phản ánh trên truyền hình từ khoảng năm 2013. Sau đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra, kiểm tra và giải quyết. Theo thông tin được chính bị cáo nêu trong quá trình xét xử, Thanh tra quận Ba Đình và Thanh tra Hà Nội từng làm việc, với kết luận tại các thời điểm đó rằng việc thu, chi cơ bản là đúng.

Đến năm 2016, bà Nguyễn Thị Bình được điều động về làm chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình; năm 2018 được điều động làm Hiệu phó một trường khác trên địa bàn. Trong thời gian này, vấn đề thu, chi tại Trường THCS Ba Đình tiếp tục được tố cáo.

Đến năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình mới ra quyết định khởi tố vụ án và sau đó khởi tố bị can đối với bà Nguyễn Thị Bình.

Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định việc khởi tố vụ án hình sự phải có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm theo luật định. Vì vậy, nếu một sự việc được phản ánh từ năm 2013 và sau đó được thanh tra, giải quyết theo cơ chế hành chính nhưng đến năm 2023 mới được khởi tố hình sự thì không thể đồng nhất hai mốc thời gian để kết luận rằng “vụ án hình sự đã kéo dài 13 năm”.

Hồ sơ có được trả để điều tra bổ sung 6 lần?

Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn điều tra trong trường hợp hồ sơ được trả để điều tra bổ sung. Theo các quy định này, trong quá trình điều tra, truy tố, Viện kiểm sát được trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung tối đa hai lần. Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán được quyền trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung một lần; Hội đồng xét xử được quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung một lần.

Đối với giai đoạn xét xử, Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc các trường hợp luật định.

Như vậy, tổng số lần trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung theo các trường hợp nêu trên là 4 lần.

Do đó, cần phân biệt việc “trả hồ sơ để điều tra bổ sung” với các yêu cầu bổ sung, xác minh, cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc. Việc cộng gộp tất cả các yêu cầu này rồi gọi chung là “trả hồ sơ điều tra bổ sung” có thể dẫn đến cách hiểu không chính xác về quá trình tố tụng và thời hạn giải quyết vụ án.

Khi đề cập đến số lần “trả hồ sơ”, cần xác định cụ thể cơ quan nào trả, ở giai đoạn nào và đó có phải là trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hay không.

Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND bị “hủy” hay “bãi bỏ”?

Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý về thuật ngữ pháp lý.

Văn bản được đề cập là Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố.

Theo nội dung vụ án, sau khi Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật thuộc Bộ Tư pháp có ý kiến về sự chưa phù hợp của Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND với Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2339-UBND ngày 05/5/2026 bãi bỏ Quyết định số 22/2013-QĐ-UBND ngày 25/6/2013.

Cần phân biệt “bãi bỏ” với “hủy bỏ”: Việc một văn bản được cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ không đồng nghĩa với việc văn bản đó đương nhiên chưa từng có hiệu lực. Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND được bãi bỏ từ thời điểm được xác định trong quyết định bãi bỏ (ngày 05/5/2026). Như vậy, Quyết định số 22/2013 không còn hiệu lực kể từ thời điểm bị bãi bỏ và vẫn có hiệu lực từ ngày ban hành cho đến trước thời điểm bị bãi bỏ. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt khi xem xét một hành vi xảy ra tại một thời điểm trong quá khứ. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định văn bản pháp luật nào có hiệu lực tại thời điểm hành vi xảy ra, cũng như các quy định chuyển tiếp và quy định pháp luật có liên quan.

Nói cách khác, việc một văn bản hiện nay không còn hiệu lực không đồng nghĩa với việc văn bản đó chưa từng có hiệu lực. Ý kiến của Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật không phải là quyết định làm cho văn bản đương nhiên mất hiệu lực.

Tố cáo không đúng có đồng nghĩa với tội vu khống?

Trước hết, cần khẳng định rằng không có quy định về tội “tố cáo sai”. Theo Luật Tố cáo năm 2018, công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật và được pháp luật bảo vệ khi thực hiện quyền tố cáo theo quy định.

Tuy nhiên, người tố cáo cũng có những nghĩa vụ nhất định. Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018 quy định người tố cáo phải cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình. Luật cũng nghiêm cấm hành vi cố ý tố cáo sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

Ở góc độ hình sự, Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về Tội vu khống. Điều luật quy định các dấu hiệu hành vi cụ thể, trong đó có hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Người tố cáo phản ánh sự việc dựa trên những thông tin mà họ có căn cứ cho là đúng, nhưng kết quả xác minh cho thấy nội dung không đúng hoặc chỉ đúng một phần. Trường hợp này không thể mặc nhiên kết luận người tố cáo phạm tội vu khống.

Nội dung tố cáo có thể đúng toàn bộ, đúng một phần hoặc sai và sẽ được cơ quan có thẩm quyền xác minh, điều tra, xử lý. Chỉ khi có căn cứ cho thấy người tố cáo biết rõ thông tin là sai nhưng vẫn cố tình bịa đặt, loan truyền nhằm xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì mới có thể xem xét trách nhiệm theo quy định pháp luật. Không thể đồng nhất việc tố cáo không đúng với hành vi vu khống.

Vì vậy, không nên diễn đạt theo hướng “tố cáo sai thì sẽ bị xử lý về tội vu khống”. Nếu hiểu sai về điều này, nó sẽ triệt tiêu ý chí đấu tranh trước các hành vi vi phạm, vốn được pháp luật khuyến khích và bảo vệ.

Vì sao thanh tra trước đây không phát hiện sai phạm nhưng điều tra sau đó lại xác định có dấu hiệu vi phạm?

Đây là vấn đề cần phân biệt về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và mục đích của hoạt động thanh tra với hoạt động điều tra hình sự.

Theo pháp luật về thanh tra, hoạt động thanh tra nhằm xem xét, đánh giá, kết luận về việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước; qua đó phát hiện những hạn chế, vi phạm và kiến nghị biện pháp xử lý theo thẩm quyền.

Trong khi đó, theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án.

Các hoạt động điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự có phạm vi thu thập chứng cứ rộng, chuyên sâu, bao gồm lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, trưng cầu giám định, yêu cầu cung cấp dữ liệu điện tử, xác minh các giao dịch chuyển tiền… Do đó, một sự việc đã được thanh tra trước đó và chưa xác định có vi phạm nhưng khi được điều tra lại có thể dẫn đến kết quả khác.

Vì vậy, việc một cuộc thanh tra trước đó chưa xác định được vi phạm không đồng nghĩa với việc về sau cơ quan tiến hành tố tụng không thể xác minh, thu thập thêm chứng cứ hoặc xem xét hành vi dưới góc độ pháp luật hình sự.

Ngược lại, việc cơ quan điều tra khởi tố hoặc xác định có dấu hiệu tội phạm cũng không tự động chứng minh rằng kết luận thanh tra trước đó là sai. Hai hoạt động được tiến hành theo những trình tự, mục đích và phạm vi thẩm quyền khác nhau.

Cần nhìn vụ việc từ đúng bản chất pháp lý

Từ những quy định nêu trên có thể thấy, một số cách diễn giải đang xuất hiện trong dư luận có nguy cơ làm cho các khái niệm pháp lý khác nhau bị nhập làm một.

Một vụ việc được phản ánh từ năm 2013 không đồng nghĩa với việc một vụ án hình sự đã được khởi tố từ năm đó.

Một yêu cầu bổ sung, xác minh tài liệu không nhất thiết đồng nghĩa với một lần “trả hồ sơ để điều tra bổ sung” theo nghĩa tố tụng.

Một văn bản bị bãi bỏ không đồng nghĩa với việc văn bản đó chưa từng có hiệu lực.

Một nội dung tố cáo không chính xác cũng không đương nhiên cấu thành tội vu khống.

Tương tự, kết luận thanh tra trước đó không phát hiện vi phạm không có nghĩa mọi hoạt động xác minh, điều tra sau đó đều không thể dẫn đến một kết luận khác.

Trong một vụ án cụ thể, việc hành vi có cấu thành tội phạm hay không, trách nhiệm của từng cá nhân đến đâu và chứng cứ có đủ căn cứ để kết luận hay không phải được cơ quan tiến hành tố tụng xác định theo đúng trình tự, thủ tục và nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự.

Bởi vậy, thay vì chỉ dựa vào những con số, thuật ngữ hoặc nhận định được lan truyền trên mạng xã hội, việc tiếp cận vụ án cần bắt đầu từ những câu hỏi căn bản: Văn bản nào quy định? Văn bản đó có hiệu lực vào thời điểm nào? Quyết định tố tụng nào đã được ban hành? Cơ quan nào ban hành? Căn cứ pháp luật là gì? Những chứng cứ nào được sử dụng để đưa ra kết luận?

Tiếp cận vụ án trên cơ sở những câu hỏi đó sẽ giúp hạn chế việc nhầm lẫn giữa các giai đoạn, cơ chế và thuật ngữ pháp lý, đồng thời góp phần bảo đảm thông tin đến với dư luận một cách thận trọng, khách quan và có căn cứ.

Luật sư Lê Hồng Quang – Trưởng Văn phòng luật sư Hà Phi
Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP: Bước tiến mới trong chính sách hình sự – vì một nền tư pháp công bằng và nhân văn

                                                                Luật sư - Thạc sĩ Lê Hồng Quang

                                                             Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 11 năm 2025. Đây là văn bản được giới chuyên môn đánh giá là có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Nghị quyết ra đời không chỉ nhằm thống nhất nhận thức và thực tiễn xét xử trên phạm vi cả nước, mà còn thể hiện tư duy cải cách tư pháp trong giai đoạn mới: lấy con người làm trung tâm, đề cao yếu tố nhân đạo, hướng đến sự công bằng và minh bạch trong xét xử.

Trước đây, việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hay tăng nặng trong lượng hình thường gặp nhiều lúng túng. Các quy định của Bộ luật Hình sự còn mang tính khái quát, dẫn đến mỗi địa phương, mỗi thẩm phán có thể có cách hiểu và vận dụng khác nhau. Nghị quyết 04/2025 được ban hành đã khắc phục tình trạng này bằng việc cụ thể hóa từng tình tiết, bổ sung ví dụ minh họa và tiêu chí đánh giá rõ ràng, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở vững chắc khi xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Một trong những điểm nổi bật của nghị quyết là cách làm mới – đi sâu giải thích từng tình tiết giảm nhẹ, gắn với thực tiễn đời sống. Những khái niệm từng gây nhiều tranh cãi như “người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm”, “phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, hay “phạm tội do bị kích động về tinh thần” nay đã được cụ thể hóa. Các yếu tố chủ quan, khách quan, hậu quả và mức độ lỗi đều được làm rõ, giúp thẩm phán lượng hình chính xác hơn, bảo đảm công bằng giữa các vụ án có tình tiết tương tự.

Một điểm mới đáng ghi nhận là việc mở rộng các trường hợp được coi là “tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”. Nghị quyết 04/2025 đã bổ sung nhiều tình huống mang tính nhân văn, ví dụ như trường hợp bị hại từ chối nhận tiền bồi thường nhưng người phạm tội vẫn chủ động nộp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc gửi giữ sẵn để khắc phục hậu quả. Cách tiếp cận này thể hiện sự linh hoạt và khuyến khích thái độ thiện chí, hối lỗi của người phạm tội, phù hợp với chính sách hình sự hướng tới cải tạo con người hơn là trừng phạt đơn thuần.

Bên cạnh đó, nghị quyết đã giải thích rõ hơn các tình tiết liên quan đến yếu tố tâm lý, hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội, như “phạm tội do bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”, “phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra”, hay “phạm tội do lạc hậu”. Những tình tiết này được xác định có tính nhân văn cao, phản ánh sự thấu hiểu của pháp luật đối với yếu tố con người và điều kiện xã hội, đặc biệt trong bối cảnh vẫn còn nhiều vùng, miền có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, phong tục lạc hậu hoặc nhận thức pháp luật hạn chế.

Nghị quyết cũng thể hiện rõ tinh thần cải cách tư pháp khi đưa ra hướng dẫn chi tiết về các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51- phần trước đây còn nhiều cách hiểu, thậm chí lạm dụng khi áp dụng. Lần đầu tiên, Tòa án nhân dân tối cao đưa ra các ví dụ cụ thể: người phạm tội có ba con nhỏ dưới 15 tuổi, có con bị bệnh hiểm nghèo hoặc khuyết tật, người bị hại có lỗi... đều có thể được xem xét giảm nhẹ hình phạt. NHững quy định này cho thấy sự nhấn mạnh của Tòa án nhân dân tối cao vào yếu tố nhân thân, hoàn cảnh gia đình và trách nhiệm xã hội trong việc lượng hình. Điều này không chỉ giúp các Tòa án địa phương có căn cứ rõ ràng khi xem xét giảm nhẹ mà còn góp phần hạn chế sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật, đồng thời thể hiện sự khoan dung của pháp luật với hoàn cảnh gia đình, đời sống của người phạm tội.

Đặc biệt, Nghị quyết 04/2025 đã thiết lập rõ cơ chế cân đối giữa tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong quá trình lượng hình. Trường hợp Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Quy định này giúp tránh tình trạng “đếm tình tiết” máy móc, đồng thời buộc Hội đồng xét xử phải đánh giá tổng thể về mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân người phạm tội. Đây là quy định có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, vừa bảo đảm nguyên tắc nghiêm minh, vừa thể hiện tính khoan dung có điều kiện của pháp luật.

Ở chiều ngược lại, nhóm tình tiết tăng nặng cũng được làm rõ hơn để phù hợp với thực tiễn tội phạm hiện đại. Các khái niệm như “dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội” hay “sử dụng phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người” được minh họa bằng những ví dụ thực tế: phạm tội qua mạng, sử dụng công nghệ cao, tổ chức đường dây xuyên quốc gia… Đây là bước đi cần thiết trong bối cảnh tội phạm công nghệ, tài chính và phi truyền thống ngày càng phức tạp. Nghị quyết thể hiện rõ sự chủ động của ngành tư pháp trong việc thích ứng với những thách thức mới của thời đại số.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới tích cực, nghị quyết vẫn còn một số vấn đề cần được làm rõ hơn trong quá trình thực hiện. Một số khái niệm vẫn mang tính định tính, khó lượng hóa, như “thiệt hại không lớn”, “hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” hay “mức độ làm giảm bớt tác hại của tội phạm”. Việc thiếu tiêu chí định lượng cụ thể có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các Tòa án. Ngoài ra, nghị quyết chưa quy định rõ mức độ “tự nguyện khắc phục hậu quả” trong trường hợp người phạm tội chỉ bồi thường một phần nhỏ thiệt hại.

Một điểm khác cũng được giới chuyên môn lưu ý là phạm vi các ví dụ trong nghị quyết vẫn chủ yếu xoay quanh tội phạm truyền thống, chưa thật sự bao quát tội phạm công nghệ, tài chính, môi trường hay tội phạm mạng – những lĩnh vực đang ngày càng phổ biến. Việc bổ sung các hướng dẫn cụ thể hơn cho nhóm tội này là cần thiết để nghị quyết phát huy hiệu quả thực tiễn, giúp các thẩm phán có căn cứ chính xác khi lượng hình.

Dù còn những điểm cần hoàn thiện, có thể khẳng định rằng Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP là một bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam. Văn bản này không chỉ cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Hình sự mà còn thể hiện rõ định hướng chính sách hình sự nhân văn – vừa nghiêm khắc trong xử lý tội phạm, vừa khoan dung với người biết hối cải. Qua đó, nghị quyết góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, nâng cao tính thống nhất trong xét xử và khẳng định tinh thần “lấy con người làm trung tâm” trong mọi quyết định của pháp luật.

Để nghị quyết thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phối hợp chặt chẽ trong việc thống nhất nhận thức, đồng thời tăng cường công tác hướng dẫn, giải đáp nghiệp vụ và xây dựng án lệ phù hợp. Khi những quy định mang tính định tính được cụ thể hóa hơn, chắc chắn việc áp dụng pháp luật sẽ ngày càng công bằng, minh bạch và thấm đượm tinh thần nhân văn – đúng như mục tiêu mà Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP hướng tới: một nền tư pháp nghiêm minh, hiện đại và gần gũi với con người.

 

Kết nối với chúng tôi

0909646482
0909646482