TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Cần hiểu đúng một số vấn đề quanh vụ án tại Trường THCS Ba Đình - Vụ án liên quan đến bà Nguyễn Thị Bình, cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình, Hà Nội

Nhìn từ quy định pháp luật: Cần hiểu đúng một số vấn đề quanh vụ án tại Trường THCS Ba Đình

Vụ án liên quan đến bà Nguyễn Thị Bình, cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình, Hà Nội, vừa có diễn biến mới khi bản án sơ thẩm bị tuyên hủy để điều tra, giải quyết lại theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Sau diễn biến này, trên mạng xã hội và một số phương tiện thông tin xuất hiện nhiều cách diễn giải khác nhau. Đáng chú ý là các ý kiến cho rằng vụ việc đã kéo dài 13 năm; hồ sơ đã được trả để điều tra bổ sung 6 lần; Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm đã bị “hủy”; người tố cáo nếu tố cáo không đúng có thể bị xử lý về tội vu khống; hoặc việc trước đây cơ quan thanh tra kết luận không có sai phạm nhưng sau đó cơ quan điều tra lại xác định có dấu hiệu vi phạm.

Những vấn đề này cần được xem xét trên cơ sở phân biệt rõ giữa thời điểm vụ việc được phản ánh, tố cáo với quá trình thanh tra và tố tụng hình sự, đồng thời sử dụng chính xác các thuật ngữ pháp lý.

Bài viết chỉ cung cấp thông tin tham khảo trên cơ sở các quy định pháp luật, không đưa ra kết luận về hành vi của các bị cáo hay kết quả vụ án.

Vụ án có thực sự kéo dài 13 năm?

Một trong những điểm cần làm rõ là sự khác nhau giữa thời điểm vụ việc được phản ánh và thời điểm vụ án hình sự được khởi tố.

Theo nội dung đã được công khai, những vấn đề liên quan đến thu, chi trong hoạt động dạy thêm tại Trường THCS Ba Đình được phản ánh trên truyền hình từ khoảng năm 2013. Sau đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra, kiểm tra và giải quyết. Theo thông tin được chính bị cáo nêu trong quá trình xét xử, Thanh tra quận Ba Đình và Thanh tra Hà Nội từng làm việc, với kết luận tại các thời điểm đó rằng việc thu, chi cơ bản là đúng.

Đến năm 2016, bà Nguyễn Thị Bình được điều động về làm chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình; năm 2018 được điều động làm Hiệu phó một trường khác trên địa bàn. Trong thời gian này, vấn đề thu, chi tại Trường THCS Ba Đình tiếp tục được tố cáo.

Đến năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình mới ra quyết định khởi tố vụ án và sau đó khởi tố bị can đối với bà Nguyễn Thị Bình.

Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định việc khởi tố vụ án hình sự phải có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm theo luật định. Vì vậy, nếu một sự việc được phản ánh từ năm 2013 và sau đó được thanh tra, giải quyết theo cơ chế hành chính nhưng đến năm 2023 mới được khởi tố hình sự thì không thể đồng nhất hai mốc thời gian để kết luận rằng “vụ án hình sự đã kéo dài 13 năm”.

Hồ sơ có được trả để điều tra bổ sung 6 lần?

Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn điều tra trong trường hợp hồ sơ được trả để điều tra bổ sung. Theo các quy định này, trong quá trình điều tra, truy tố, Viện kiểm sát được trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung tối đa hai lần. Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán được quyền trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung một lần; Hội đồng xét xử được quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung một lần.

Đối với giai đoạn xét xử, Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc các trường hợp luật định.

Như vậy, tổng số lần trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung theo các trường hợp nêu trên là 4 lần.

Do đó, cần phân biệt việc “trả hồ sơ để điều tra bổ sung” với các yêu cầu bổ sung, xác minh, cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc. Việc cộng gộp tất cả các yêu cầu này rồi gọi chung là “trả hồ sơ điều tra bổ sung” có thể dẫn đến cách hiểu không chính xác về quá trình tố tụng và thời hạn giải quyết vụ án.

Khi đề cập đến số lần “trả hồ sơ”, cần xác định cụ thể cơ quan nào trả, ở giai đoạn nào và đó có phải là trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hay không.

Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND bị “hủy” hay “bãi bỏ”?

Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý về thuật ngữ pháp lý.

Văn bản được đề cập là Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố.

Theo nội dung vụ án, sau khi Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật thuộc Bộ Tư pháp có ý kiến về sự chưa phù hợp của Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND với Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2339-UBND ngày 05/5/2026 bãi bỏ Quyết định số 22/2013-QĐ-UBND ngày 25/6/2013.

Cần phân biệt “bãi bỏ” với “hủy bỏ”: Việc một văn bản được cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ không đồng nghĩa với việc văn bản đó đương nhiên chưa từng có hiệu lực. Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND được bãi bỏ từ thời điểm được xác định trong quyết định bãi bỏ (ngày 05/5/2026). Như vậy, Quyết định số 22/2013 không còn hiệu lực kể từ thời điểm bị bãi bỏ và vẫn có hiệu lực từ ngày ban hành cho đến trước thời điểm bị bãi bỏ. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt khi xem xét một hành vi xảy ra tại một thời điểm trong quá khứ. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định văn bản pháp luật nào có hiệu lực tại thời điểm hành vi xảy ra, cũng như các quy định chuyển tiếp và quy định pháp luật có liên quan.

Nói cách khác, việc một văn bản hiện nay không còn hiệu lực không đồng nghĩa với việc văn bản đó chưa từng có hiệu lực. Ý kiến của Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật không phải là quyết định làm cho văn bản đương nhiên mất hiệu lực.

Tố cáo không đúng có đồng nghĩa với tội vu khống?

Trước hết, cần khẳng định rằng không có quy định về tội “tố cáo sai”. Theo Luật Tố cáo năm 2018, công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật và được pháp luật bảo vệ khi thực hiện quyền tố cáo theo quy định.

Tuy nhiên, người tố cáo cũng có những nghĩa vụ nhất định. Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018 quy định người tố cáo phải cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình. Luật cũng nghiêm cấm hành vi cố ý tố cáo sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

Ở góc độ hình sự, Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về Tội vu khống. Điều luật quy định các dấu hiệu hành vi cụ thể, trong đó có hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Người tố cáo phản ánh sự việc dựa trên những thông tin mà họ có căn cứ cho là đúng, nhưng kết quả xác minh cho thấy nội dung không đúng hoặc chỉ đúng một phần. Trường hợp này không thể mặc nhiên kết luận người tố cáo phạm tội vu khống.

Nội dung tố cáo có thể đúng toàn bộ, đúng một phần hoặc sai và sẽ được cơ quan có thẩm quyền xác minh, điều tra, xử lý. Chỉ khi có căn cứ cho thấy người tố cáo biết rõ thông tin là sai nhưng vẫn cố tình bịa đặt, loan truyền nhằm xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì mới có thể xem xét trách nhiệm theo quy định pháp luật. Không thể đồng nhất việc tố cáo không đúng với hành vi vu khống.

Vì vậy, không nên diễn đạt theo hướng “tố cáo sai thì sẽ bị xử lý về tội vu khống”. Nếu hiểu sai về điều này, nó sẽ triệt tiêu ý chí đấu tranh trước các hành vi vi phạm, vốn được pháp luật khuyến khích và bảo vệ.

Vì sao thanh tra trước đây không phát hiện sai phạm nhưng điều tra sau đó lại xác định có dấu hiệu vi phạm?

Đây là vấn đề cần phân biệt về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và mục đích của hoạt động thanh tra với hoạt động điều tra hình sự.

Theo pháp luật về thanh tra, hoạt động thanh tra nhằm xem xét, đánh giá, kết luận về việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước; qua đó phát hiện những hạn chế, vi phạm và kiến nghị biện pháp xử lý theo thẩm quyền.

Trong khi đó, theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án.

Các hoạt động điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự có phạm vi thu thập chứng cứ rộng, chuyên sâu, bao gồm lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, trưng cầu giám định, yêu cầu cung cấp dữ liệu điện tử, xác minh các giao dịch chuyển tiền… Do đó, một sự việc đã được thanh tra trước đó và chưa xác định có vi phạm nhưng khi được điều tra lại có thể dẫn đến kết quả khác.

Vì vậy, việc một cuộc thanh tra trước đó chưa xác định được vi phạm không đồng nghĩa với việc về sau cơ quan tiến hành tố tụng không thể xác minh, thu thập thêm chứng cứ hoặc xem xét hành vi dưới góc độ pháp luật hình sự.

Ngược lại, việc cơ quan điều tra khởi tố hoặc xác định có dấu hiệu tội phạm cũng không tự động chứng minh rằng kết luận thanh tra trước đó là sai. Hai hoạt động được tiến hành theo những trình tự, mục đích và phạm vi thẩm quyền khác nhau.

Cần nhìn vụ việc từ đúng bản chất pháp lý

Từ những quy định nêu trên có thể thấy, một số cách diễn giải đang xuất hiện trong dư luận có nguy cơ làm cho các khái niệm pháp lý khác nhau bị nhập làm một.

Một vụ việc được phản ánh từ năm 2013 không đồng nghĩa với việc một vụ án hình sự đã được khởi tố từ năm đó.

Một yêu cầu bổ sung, xác minh tài liệu không nhất thiết đồng nghĩa với một lần “trả hồ sơ để điều tra bổ sung” theo nghĩa tố tụng.

Một văn bản bị bãi bỏ không đồng nghĩa với việc văn bản đó chưa từng có hiệu lực.

Một nội dung tố cáo không chính xác cũng không đương nhiên cấu thành tội vu khống.

Tương tự, kết luận thanh tra trước đó không phát hiện vi phạm không có nghĩa mọi hoạt động xác minh, điều tra sau đó đều không thể dẫn đến một kết luận khác.

Trong một vụ án cụ thể, việc hành vi có cấu thành tội phạm hay không, trách nhiệm của từng cá nhân đến đâu và chứng cứ có đủ căn cứ để kết luận hay không phải được cơ quan tiến hành tố tụng xác định theo đúng trình tự, thủ tục và nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự.

Bởi vậy, thay vì chỉ dựa vào những con số, thuật ngữ hoặc nhận định được lan truyền trên mạng xã hội, việc tiếp cận vụ án cần bắt đầu từ những câu hỏi căn bản: Văn bản nào quy định? Văn bản đó có hiệu lực vào thời điểm nào? Quyết định tố tụng nào đã được ban hành? Cơ quan nào ban hành? Căn cứ pháp luật là gì? Những chứng cứ nào được sử dụng để đưa ra kết luận?

Tiếp cận vụ án trên cơ sở những câu hỏi đó sẽ giúp hạn chế việc nhầm lẫn giữa các giai đoạn, cơ chế và thuật ngữ pháp lý, đồng thời góp phần bảo đảm thông tin đến với dư luận một cách thận trọng, khách quan và có căn cứ.

Luật sư Lê Hồng Quang – Trưởng Văn phòng luật sư Hà Phi
Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Tòa án xác định bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ đối với hành vi bồi thường thiệt hại vì cho rằng người nhận bồi thường không phải là khách thể của tội ‘Gây rối trật tự công cộng’ - góc nhìn của luật sư từ một vụ án thực tế.

Việc xác định người bị thiệt hại trong tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự và khả năng áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 về tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” lâu nay tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Một vụ án xảy ra tại sân bóng vừa được một tòa án khu vực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh xét xử cho thấy sự bất cập trong việc đánh giá hậu quả thực tế của hành vi phạm tội, đặt ra yêu cầu cần thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm tính nhân đạo, nhất quán và hợp lý của chính sách hình sự.

 

Ghi chú hình: Luật sư Lê Hồng Quang (ngoài cùng bên phải) tham gia phiên tòa để bào chữa cho bị cáo.

 

Theo hồ sơ vụ án, do mâu thuẫn trước đó, khi thấy người từng xô xát với mình có mặt tại sân bóng, bị cáo đã gọi bạn mang gậy ba khúc đến để phòng thân. Sau khi đá bóng xong, bị cáo dùng gậy ba khúc tấn công khiến nạn nhân bị thương tích 02%. Hành vi dùng hung khí nơi công cộng khiến bị cáo bị khởi tố về tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 2 Điều 318, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năn 2017 (BLHS). Trong giai đoạn điều tra và truy tố, bị cáo đã bồi thường thiệt hại, người bị thương tích có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trong Kết luận điều tra và Cáo trạng đều ghi nhận tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo vì “tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm b và điểm s Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bất ngờ rút lại tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường thiệt hại” vì cho rằng người bị thương tích không phải “bị hại” của tội gây rối trật tự công cộng. Tòa án chấp nhận quan điểm này, gây nên tranh luận rộng rãi về tính đúng đắn trong cách áp dụng pháp luật.

Để đánh giá vấn đề, cần trở lại với bản chất khách thể của tội gây rối trật tự công cộng. Theo Điều 318 và các văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, trật tự công cộng là trạng thái ổn định, nề nếp của các hoạt động xã hội nơi công cộng. Hành vi gây rối là những hành vi xâm phạm sự ổn định chung, gây hoảng loạn, làm gián đoạn sinh hoạt, ảnh hưởng đến an ninh - trật tự tại nơi công cộng. Khách thể bị xâm phạm không phải cá nhân cụ thể mà là môi trường công cộng. Thiệt hại về sức khỏe hay tài sản không phải dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm, mà chỉ là hệ quả có thể phát sinh.

Tuy nhiên, việc khách thể là trật tự công cộng không đồng nghĩa với việc các cá nhân bị thiệt hại trong vụ án không liên quan gì đến trách nhiệm của người phạm tội. Trong rất nhiều vụ việc, người bị thương hoặc chủ tài sản bị hư hỏng vẫn là người chịu hậu quả thực tế của hành vi gây rối và có quyền yêu cầu bồi thường. Việc người phạm tội bồi thường cho họ thể hiện thiện chí khắc phục hậu quả, điều mà pháp luật coi trọng khi đánh giá nhân thân và mức độ nguy hiểm của hành vi.

Điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hoàn toàn không yêu cầu người nhận bồi thường phải là “bị hại” theo nghĩa “khách thể” trong cấu thành tội phạm. Tình tiết giảm nhẹ được áp dụng khi có việc “tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”, miễn là thiệt hại đó bắt nguồn từ hành vi phạm tội. Do đó, việc lập luận rằng “người bị đánh không phải khách thể tội phạm nên không được giảm nhẹ” là cách hiểu máy móc, không phù hợp với nội dung điều luật và trái với thực tiễn xét xử.

Trong vụ án tại sân bóng, thương tích 02% của người bị đánh là hậu quả trực tiếp và khách quan phát sinh từ hành vi phạm tội. Dù thương tích không phải dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội gây rối, nhưng đó vẫn là hậu quả không thể tách rời với hành vi dùng hung khí nơi công cộng. Người bị đánh không phải là khách thể của Điều 318, nhưng họ là người bị thiệt hại thực tế, có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Khi bị cáo bồi thường thiệt hại cho người này, hành vi đó đã đáp ứng đúng bản chất của việc “bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” theo điểm b Điều 51. Việc bác bỏ tình tiết giảm nhẹ với lý do không đúng bản chất khách thể không chỉ thiếu căn cứ mà còn đi ngược với chính tinh thần nhân đạo của luật hình sự.

Trên thực tế, nhiều vụ án gây rối khác đã áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ khi bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị ảnh hưởng. Ví dụ như các vụ đánh nhau tại quán Karaoke gây hỏng bàn ghế, xô xát tại chợ làm đổ vỡ hàng hóa, các bị cáo bồi thường cho chủ tài sản và được ghi nhận tình tiết giảm nhẹ. Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ban hành ngày 30/09/2025 cũng không chỉ định cụ thể chủ thể nhận bồi thường; thậm chí, chỉ cần người phạm tội nộp khoản tiền vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tiến hành tố tụng cũng được coi là hành vi khắc phục hậu quả. Điều này cho thấy pháp luật không hề giới hạn đối tượng bồi thường phải là bị hại theo cấu thành tội phạm.

Tình huống trở nên bất hợp lý khi xem xét thiệt hại phát sinh đối với chủ sân bóng. Dù sân bóng thuộc sở hữu cá nhân, nhưng xét theo thông lệ xét xử, đây là địa điểm công cộng. Nếu tài sản sân bóng bị hư hỏng, bị cáo bồi thường, nhưng chủ sân bóng lại không được xem là đối tượng mà việc bồi thường có thể làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì điều đó tạo nên nghịch lý: một địa điểm tư nhân được coi là nơi công cộng để xử lý bị cáo theo Điều 318, nhưng chủ tài sản lại không được công nhận là người bị thiệt hại trong vụ án để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người đã gây ra thiệt hại. Như vậy, bồi thường hay không bồi thường cũng không ảnh hưởng đến hình phạt, điều này đi ngược với mục tiêu khuyến khích khắc phục hậu quả của pháp luật hình sự.

Về phương diện lý luận hình sự, hậu quả của tội phạm bao gồm hậu quả pháp lý đối với khách thể và hậu quả thực tế đối với những cá nhân hoặc tổ chức liên quan. Luật hình sự không hề loại trừ việc xem xét hậu quả ngoài cấu thành khi đánh giá tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, việc đồng nhất hậu quả cấu thành với hậu quả thực tế để phủ nhận tình tiết giảm nhẹ là thiếu cơ sở khoa học và không phản ánh đầy đủ thực tế vụ án.

Bên cạnh đó, việc Viện kiểm sát rút tình tiết giảm nhẹ tại phiên tòa mà không có căn cứ pháp lý mới là điều gây tranh cãi lớn. Kết luận điều tra và Cáo trạng đều xác định việc tự nguyện bồi thường của bị cáo là tình tiết giảm nhẹ. Việc thay đổi quan điểm tố tụng tại phiên tòa cần có cơ sở rõ ràng và thuyết phục, bởi nguyên tắc nhất quán và ổn định trong đánh giá chứng cứ, tình tiết là yêu cầu quan trọng trong bảo đảm công bằng tố tụng. Trong khi đó, hồ sơ vụ án không cho thấy việc bồi thường là không tự nguyện hay không liên quan đến hậu quả của hành vi. Vì vậy, việc rút tình tiết giảm nhẹ không phù hợp với tinh thần của pháp luật và đi ngược lại nguyên tắc khoan hồng đối với người phạm tội.

Nếu tiếp tục duy trì cách hiểu này, người phạm tội sẽ không còn động lực bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả. Điều này dẫn đến hệ quả tiêu cực: người phạm tội chọn cách “phó mặc” hậu quả vì hành vi thiện chí không được pháp luật ghi nhận. Chính sách hình sự luôn nhấn mạnh giáo dục, cải tạo và hướng thiện; vì vậy, việc từ chối ghi nhận hành vi bồi thường vừa không nhân văn, vừa làm suy giảm hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn.

Từ góc nhìn rộng hơn, vụ án đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc thống nhất cách hiểu giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong xác định hậu quả, bị hại và tình tiết giảm nhẹ của tội gây rối trật tự công cộng. Hậu quả thực tế của hành vi phạm tội có thể vượt xa phạm vi khách thể của cấu thành cơ bản, và việc đánh giá tình tiết giảm nhẹ cần dựa trên tổng thể các yếu tố khách quan, không chỉ dựa vào khái niệm pháp lý hẹp về “bị hại”.

Từ tất cả những phân tích trên, có thể khẳng định việc Kiểm sát viên rút tình tiết giảm nhẹ và việc Tòa án không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo trong vụ án xảy ra tại sân bóng như đề cập ở trên là không phù hợp với tinh thần và nội dung của Bộ luật Hình sự, của Chính sách Hình sự. Dù người bị đánh hay chủ sân bóng không phải là khách thể của tội gây rối trật tự công cộng, nhưng họ vẫn là người chịu thiệt hại trực tiếp phát sinh từ hành vi phạm tội. Khi bị cáo bồi thường cho những người này, đó là hành vi khắc phục hậu quả đúng nghĩa, phù hợp để được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51. Việc từ chối áp dụng tình tiết này không chỉ thiếu cơ sở pháp lý mà còn mâu thuẫn với chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự và làm phát sinh những bất cập trong thực tiễn xét xử.

Để bảo đảm tính công bằng, thống nhất và nhân đạo của pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng cần nhanh chóng thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật đối với vấn đề này. Một hệ thống pháp lý chỉ thực sự hiệu quả khi vừa bảo đảm trật tự xã hội, vừa tạo điều kiện để người phạm tội có cơ hội sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng.

Luật sư, Thạc sĩ Lê Hồng Quang

Công ty luật Hà Phi

Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

 

Kết nối với chúng tôi

0909646482
0909646482